Vũ Ngọc Phan với các giá trị văn chương-học thuật dân tộc In Thư điện tử
Phong Lê

Mỗi dịp kỷ niệm về Vũ Ngọc Phan, trong tôi lại bồi hồi biết bao cảm xúc và kỷ niệm về ngôi nhà 20 Lý Thái Tổ, vừa là nơi ở, vừa là nơi làm việc.
Ở đó có một phòng cho gia đình ông bà Vũ Ngọc Phan - Hằng Phương - bây giờ là kho sách Thư viện; và tôi là cậu sinh viên vừa ra trường có chút tò mò không hiểu sao một tên tuổi như Vũ Ngọc Phan lại không có nhà riêng, lại phải ở nhờ cơ quan.

Đọc tiếp...
 
Một cách đọc Orhan Pamuk, người bắc cầu giữa Đông và Tây In Thư điện tử
Nguyễn Tiến Văn

1. Giải Nobel đầu tiên cho văn học Turki

Mãi đến 2006, tức là 105 năm sau giải Nobel văn học đầu tiên tặng cho nhà thơ Pháp là Sulli Prudhomme, cũng là năm năm sau sự kiện khủng bố nổ tung Trung tâm Thương mại Thế giới tại New York của Hoa Kì của những đặc công Muslim.

Đọc tiếp...
 
Bên ngoài địa hạt tình yêu In Thư điện tử
Claudio Magris
Vũ Ngọc Thăng dịch

Trong một lá thư gửi Milena, Kafka nói về những kẻ đêm ngày bên nhau, cùng ngủ và cùng thức. Với một cảm thức đau xót và trớ trêu về sự lạc loài của chính mình, Kafka hiểu rõ cái thách thức lớn lao ấy của cuộc sống.


Ông biết, tình yêu là khả năng chia sẻ cuộc sinh tồn, đặc biệt, cuộc sinh tồn thường nhật. Milena là chiều cao của tình yêu, cô biết đem tình yêu bảo bọc và thẩm thấu trọn thực tại, cả những điều tẻ nhạt và những chuyện khó khăn thường ngày; Kafka chỉ biết yêu từ xa, ông hiểu nỗi nhớ thương và niềm thăng hoa khi yêu, nhưng trước cái vẹn đầy và trước cái toàn diện của tình yêu, ông thu người sợ hãi. Những lá thư gửi Milena là lời chứng cho một trong những sự kiện tinh thần sâu sắc nhất của thế kỷ 20, một trang viết cao đẹp cho lịch sử của chúng ta. Bây giờ được tái bản qua ấn bản kinh điển của Ervino Pocar, được mở đầu với lời tựa, cũng kinh điển, của Willy Hass, bạn cũ của hai chủ nhân của những lá thư, và giới thiệu với độc giả Ý qua một bài tiểu luận xuất sắc của Cinzia Calcagnile, điển hình cho tính chính xác và cường độ cảm xúc.

Việc trao đổi thư từ bắt đầu từ năm 1920 và về cơ bản kéo dài đến năm 1922, chuyển từ Cô sang Em, và cuối cùng, lại chuyển về Cô. Từ một cơ duyên tình cờ - khi Milena dịch một số truyện ngắn của Kafka sang tiếng Tiệp - đã nảy sinh trong ông một kinh nghiệm tình yêu sâu đậm nhất, và vì thế, một kinh nghiệm hết sức bất ổn đối với ông, điều mà nhà văn sẽ chuyển tải vào Lâu đài, ngụ ngôn hoàn hảo về một kiểu xa cách không thể hiểu thấu. Như lúc nào cũng vậy, đối với Kafka, thái độ xa cách này không thể vượt qua, bởi ông không muốn vuợt qua và thậm chí cấm tuyệt cả ý chí muốn vượt qua; ông đã bước đến ngưỡng cửa của tình yêu - nghĩa là của chân lý - nhưng khi trong tay đã nắm quả nắm cửa, như đã viết trong một lá thư, thì ông tháo lui, biết rõ rằng đây đích thị là một lỗi lầm, điều đã để lại dấu ấn trong các tác phẩm và trong cuộc đời của ông.

Kafka, Cinzia Calcagnile viết, là một người-ngoài-tình-yêu, bởi ông trực thuộc một địa hạt khác, địa hạt của nỗi thống khổ. Trong quan hệ với Milena - người đã lập gia đình, cho nên gạt ra ngoài khả năng hôn nhân và sống chung - ông mang ảo tưởng là mình lảng tránh sự hoán thế giữa đời sống và thơ ca, điều vốn được ông thể hiện qua một tính cách bí giải, ông hy vọng có thể dung hòa nỗi cô đơn của cái viết (ông dành ban đêm cho những ám ảnh thơ ca và giải thoát mình trong cuộc hợp nhất giữa thân thể và cảm xúc) và cảm thức gần gũi thương yêu.

Đối với Kafka, viết và sống là những thực tại không thể dung hòa, vả lại, cũng chẳng phải ông dựa vào một niềm tin nào đó về cái giá trị ưu việt của nghệ thuật, về cái khả năng cứu chuộc cuộc đời của nó, hoặc thu nắm được từ nó cái ý nghĩa sâu kín nhất của cuộc đời. Giữa cuộc đời và cái viết, ông cần một cái kia/cái khác, bởi cuộc đời, qua dòng xoáy ngầu đục và năng nhọc của nó, sẽ cuốn ngợp sức lực vốn rất yếu ớt của ông và khiến hình thái tồn tại duy nhất, mà ông có khả năng và có nhu cầu, trở nên bất khả: qui trình tinh quý hóa, cực kỳ thuần khiết và ngoài-người của cái viết. Để đạt tới điều mà đối với ông là đời sống thực có, Kafka phải giải thoát ra khỏi điều mà chính ông, một cách khách quan, coi là đời sống đích thực: tình yêu, công việc, gia đình, cộng đồng người, cái thường nhật không hoàn hảo, tốt lành, và nồng nhiệt.

Những lá thư của Kafka là bộ phận hữu cơ với sự nghiệp văn chương của ông, không phải vì ông thỏa mãn, về phương diện mỹ học, với những kinh nghiệm sống của mình, mà bởi vì ông biết độc một việc: viết, và ngôn ngữ của ông, giữa kỳ vọng văn chương và thông tri thực tiễn, chẳng nề hà tước hiệu phong cách, luôn luôn được chói lòa bởi chân lý, như ông nói, một chân lý chói lòa như thế thì không thể chịu nổi, thế mà ông không bao giờ ngưng theo đuổi.

Kafka nhận ra trong mình một tính cách bất khả thi, khi phải cùng lúc thỏa đáp bổn phận của đời sống và bổn phận của thơ ca. Như nghệ sĩ nhịn đói trong một câu chuyện của ông, thiên hướng của ông đòi hỏi sự kiêng nhịn và sự từ chối, không vì sự thể phải hy sinh hạnh phúc để đổi lấy cái đẹp của tác phẩm văn chương, mà vì sự thể, chân lý sinh tồn của ông, bản chất của ông, là sự nhịn đói, là sự cô đơn, là sự từ chối. Ông không lập cư trong địa hạt tình yêu, bởi ông trụ lại trong địa hạt của chính mình, địa hạt của nỗi thống khổ. Qua phương thức như thế, Kafka trở thành một mẫu thức điển hình của cái cá thể hiện đại, của số phận của nó, nhưng cũng của cái tội của nó, bởi Kafka, khi tự cử chọn cho mình số phận phủ định này, chắc chắn đã hiểu ý nghĩa lịch sử chung của nó; điều mà ông trĩu nặng trên vai mỗi người, nhưng cũng không bao giờ thừa nhận cái tính tất yếu quy ra từ nó, như những nhà tư tưởng của sự phủ định hồ hởi đã làm. Ông không bao giờ tuyên bố, đây là cái số phận ấy duy nhất khả thể, tiền định, và tất yếu cho tất cả mọi người.

Kafka nhận ra rằng Milena, bản lĩnh hơn ông, chỉ qua cuộc sống của cô là đã bác bỏ, một cách nghiêm khắc và nồng nàn, bất kì một sự cách ly nào giữa cuộc đời và chân lý. Milena không chọn giữa nỗi thống khổ và tình yêu, không chấp nhận sự không tương thích giữa chúng, điều hẳn sẽ dẫn đến việc trú ngụ trong niềm hạnh phúc giả tạo hoặc đắm mình trong bãi sa mạc tuyệt vọng. Đối với Milena, yêu là chấp nhận nỗi thống khổ, sự thử thách không mang tham vọng chiến thắng nó mà để không ngừng đối phó với nó; đây chính là sức mạnh của việc ngủ và thức bên nhau, không bao giờ chịu chấp nhận trận thất bại cuối cùng, cả khi trong đêm dài ác mộng và quái vật kéo đến.

Kafka, thật đáng phục, biết chung sống với nỗi thống khổ: ông cầm chừng nó, ông vòng qua nó, ông sử dụng đòn ngón không để cho nó tràn bờ tàn phá, ông thuần phục nó với cái tài của một nữ vận động viên Trung Quốc dẻo dai, và ông khéo léo không để mình bị biến thành con mồi cho nó. Mỉa mai, vui nhộn, xa lạ với bất kì một lối khoa trương hoa mỹ nào về nỗi tuyệt vọng và thiên về hài hước, Kafka cho thấy tại sao cuộc đời và lẽ sống còn, là cốt ở cuộc chung sống, gieo neo đi trên dây và nô đùa với mọi hiểm họa.

Nhưng Kafka chỉ biết chung sống với nỗi thống khổ mà ông tự cáo buộc như là tội tổ tông của mình. Ông yêu Milena, nhưng điều này không đủ để ông có cái can đảm tự mình nhận lãnh những nỗi lo của người phụ nữ ấy, và trước hết, cái can đảm, cam go hơn nhiều, giao phó nỗi khốn khó của mình cho cô. Ông thích được thức dậy, một mình, buổi sáng, bởi vì sự ô trọc - như ông gọi: sự nhọc nhằn của cuộc sống - vẫn còn ẩn khuất, ông chưa bắt đầu đặt quan hệ với bất cứ điều gì và với bất cứ ai và ông để mất đi mặt nổi và trọng lực; ông trở nên nhẹ tênh và không chất thể, như thể đang nô đùa với những quả bong bóng. Nhún nhường là một đức hạnh, nhưng Kafka chưa có cái đức hạnh ưu thế hơn, biết buông xả.

Kafka sợ tình yêu, bởi ông sợ việc sống chung, sợ gia đình, hình thái được ông nâng lên thành một đài thơ, mà có lẽ chỉ ở một nhà văn Do Thái mới có thể làm được. Tương phản với kiểu gia đình lạc quan hoa mỹ và xây dựng, ông thường nêu lên một kiểu gia đình khác, phản đề, và cũng không kém vô vị: gia đình dưới hình thái lề thói hẹp hòi và ngột ngạt, hôn nhân như ngôi mộ của tình yêu. Kafka hiểu rằng, ở một bình diện hết sức cao, điều mà Chesterton đã hiểu: gia đình và cuộc chung sống yêu đương là địa hạt của sự mạo hiểm và của những điều không thể dự kiến, cái cảnh tượng hằng ngày về một niềm hạnh phúc mất đi và giành lại, cái thử thách lớn lao và trường kì nhằm duy trì cường độ cảm xúc sống còn. Từ những đêm ngủ và sáng thức bên nhau, người ta trốn chạy, không phải để thoát khỏi sự ảm đạm mà tìm về niềm hân hoan, nhưng để tránh sự căng thẳng, sự vẹn đầy, của chân lý, của tình yêu, và tự cho phép mình một kiểu ngưng nghỉ lãnh đạm, hả hê tẻ nhạt, một kiểu ngưng nghỉ để dự phòng mọi sự rủi ro.

Kafka sợ Milena, ông không sợ những người đàn bà, mà ngay cả đến ông, cũng có dịp được "chung giường dăm ba thời khắc", bởi vì, với Milena, ông có thể thất bại, ông phải tự phơi mở mình trước cái sức ép may rủi mà mỗi mùa hạnh phúc mang theo. Một mình, trong phòng, hoặc dăm ba thời khắc chung giường với người khác, Kafka sẽ chịu đựng nỗi buồn khá hơn, bởi ông không ngụy tạo hạnh phúc, và mọi việc xảy ra, xét cho cùng, vuột khỏi ông. Cạnh Milena, lúc nào cũng vậy, ông muốn độc một điều: hạnh phúc, ở đỉnh điểm của tình yêu, và Kafka không dám tự phơi mở mình trước cái hiểm họa thất bại.
Dòng văn học kiệt tác đương đại thường kể lại một cách tuyệt vời cái cảm thức hoài cảm về tình yêu, những khoảnh khắc qua đó người ta thoáng gặp ảo tượng của nó, cái lời tự thoại nội tâm giữ gìn nó qua các hình ảnh xa xưa: niềm đắm say mà Proust dành cho gương mặt của Gilberte và cho cái mạng mà ông đan chung quanh Albertine, chuyến du hành thiên đường ít ngày ngắn ngủi giữa trời và biển của cặp tình nhân kiểu-Musil đơn độc, vẻ xa cách của một Ada kiểu-Svevo và những bí quyết của Zeno nhằm giữ gìn hình ảnh của nàng từ đàng xa và vĩnh viễn duy trì sức quyến rũ của nó. Trái lại, đối với Kafka, tình yêu là sự thức dậy chung, luôn luôn lặp lại và luôn luôn mới, là chuyến phiêu lưu hệ trọng của cuộc đời, của thân thể và của sự chuyển biến của nó, của cha mẹ và con cái, của cái cuộc "cùng đầu bạc răng long", như Vittorio Saltini đã viết trong một bài báo đặc sắc.

Kafka tự biết, trong chuyến phiêu lưu này, mình chẳng tương ứng với ai; so với các nhà văn lớn có niềm tin tôn giáo đã phóng khoáng thăm dò cái bề sâu thăm thẳm của dục tính, ông có cái tinh quái quỷ-thần, cái tinh tường uẩn khúc và cái tính cách lưỡng phân về tình yêu, ông không có cái khả năng vượt qua các tuyến đường mê cung của con tim và của tâm thần để mà đặt chân đến một sự hòa điệu cao hơn, vốn chỉ có thể đạt được khi đã trải qua các tuyến đường ấy. Milena biết bước sang bên kia; cô không để thâm tâm bị vướng mắc, ngay cả khi ở trong địa ngục của Trại tập trung Ravensbrück, nơi cô bị bọn Quốc Xã giết hại năm 1944, và nơi mà cô đã không để mình bị nỗi kinh hoàng bóp nghẹt nhân cách khi dành cho người khác lòng ân cần dũng cảm đến phút chót, một nhân cách, như Kafka viết, mang lại sự cứu rỗi cho kẻ khác. Chỗ của Kafka, trái lại, là gian phòng khách thường trực trong cái tròng xoắn ốc xoáy vòng của nỗi thống khổ và ông sợ mình sẽ cầm giữ cô trong những luồng cát di động ấy. Nhưng ông biết, lỗi của ông chính là ở cái nỗi sợ này: không chịu thể hiện quyền lợi và bổn phận của mình, để mà yêu cầu sự cứu giúp của tình yêu và đón nhận nó.


---

Nguồn: Claudio Magris, "Fuori dal territorio dell'amore", Itaca e oltre (Ithaca và sau nữa), Garzanti Editore s.p.a., 1982. vietvan.vn trích đăng lại từ talawas.org, 2005

 
Đọc lại barthes và nabokov In Thư điện tử
Zadie Smith
Đào Trung Đạo dịch
Sự ra đời của người đọc hẳn phải được trả giá bằng cái chết của Tác giả - (ROLAND BARTHES, Cái Chết của Tác giả)
Đáng ngạc nhiên thay, người ta không thể đọc một quyển sách; người ta chỉ có thể đọc lại quyển sách.
Một người đọc sách giỏi, một người đọc thực sự, một người đọc tích cực là một người đọc lại (rereader) - (VLADIMIR NABOKOV, Strong Opinions)
Đọc tiếp...
 
Đừng làm rối trí người đọc In Thư điện tử
Nguyễn Văn Dân

Hiện nay, nhiều lý thuyết mỹ học và nghiên cứu văn học của thế giới đã được giới thiệu ở Việt Nam. Tuy nhiên, nhiều người khi giới thiệu các lý thuyết đó đã tỏ ra thiếu cái nhìn hệ thống, cho nên đã trình bày một cách rối rắm, thậm chí sai lệch.Đó là khi người ta đề cập đến các lý thuyết liên quan đến người đọc.

Đọc tiếp...
 
<< Bắt đầu < Trước 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Tiếp > Cuối >>

Trang 1 / 37

Liên kết Website

Băng quảng cáo

Bookmark Us

Add to: Mr. Wong Add to: Webnews Add to: Icio Add to: Oneview Add to: Yigg Add to: Linkarena Add to: Digg Add to: Del.icoi.us Add to: Reddit Add to: Simpy Add to: StumbleUpon Add to: Slashdot Add to: Netscape Add to: Furl Add to: Yahoo Add to: Blogmarks Add to: Diigo Add to: Technorati Add to: Newsvine Add to: Blinkbits Add to: Ma.Gnolia Add to: Smarking Add to: Netvouz Add to: Folkd Add to: Spurl Add to: Google Add to: Blinklist Information
by: Camp26.Com