Ông văn hiến trí thức In Thư điện tử
Phạm Xuân Nguyên

Ông tên Hiến làm Văn nên gọi người văn hiến.
Ông cách thế trí thức nên là người trí thức.

Người được gọi là trí thức phải có hai điều: có một căn bản tri thức và có một bản lĩnh cá nhân.
Nền tảng của tri thức là triết học. Người có căn bản tri thức là người có hiểu biết triết học, biết suy tư vấn đề bằng các phạm trù triết học, biết nhìn hiện tượng dưới góc độ triết học. Hoàng Ngọc Hiến do tư chất bẩm sinh của mình và do sự đào luyện/tự đào luyện của mình nên biết hướng đến triết học từ sớm. Kỷ niệm hai trăm năm sinh Nguyễn Du (1965) ông đã có bài viết "Triết lý Truyện Kiều". Ngay từ khi đó ông đã đề xuất cách nhìn hệ thống khi nghiên cứu một tác giả, một tác phẩm. Ông đã thấy "triết lý của Nguyễn Du quả là không tương xứng với tác phẩm thiên tài của Nguyễn Du", nhưng tác giả truyện Kiều vẫn là một trí tuệ lớn. Đó là "trí tuệ của trái tim" chứ không phải "trí tuệ của trí tuệ", theo cách phân biệt của Lev Tolstoy mà ông dẫn ra. Và ông Hiến cho cách phân biệt này của nhà đại văn hào Nga là "biện chứng hơn sự phân biệt thường lệ giữa lý và tình". Có thể thấy xu hướng triết học như thế xuyên suốt học thuật của ông Hiến, mà dấu hiệu nhận biết là ông thường nâng vấn đề lên tầm triết. Những quan niệm ông đưa ra bằng những cụm từ có tính triết học đã làm nên tên tuổi Hoàng Ngọc Hiến và gây ra tranh cãi quanh tên tuổi ông. "Chủ nghĩa hiện thực phải đạo", "văn học âm dương", "văn học bước qua lời nguyền", nhắc đến là thấy ra vấn đề, nhưng cũng rắc rối và phức tạp trong các vấn đề đó. Ngay cả cái câu "Cái nước mình nó thế" thốt ra từ miệng ông để rồi thành câu cửa miệng cũng có ý vị triết luận, triết lý một sự đời, một chiêm nghiệm sống! Cho nên không ngẫu nhiên khi ở chặng cuối đời ông lại hăng hái, nhiệt tình giới thiệu và truyền bá nhà nghiên cứu triết học Pháp F. Jullien vào Việt Nam. "Ta cũng nòi tình thương người đồng điệu", tư duy nghiên cứu của Hoàng Ngọc Hiến là tư duy triết, nên khi bắt gặp một nhà nghiên cứu triết Tây bàn sâu bàn rộng về triết Đông là ông mê liền. Ông đã bỏ nhiều công sức tổ chức dịch thuật và giới thiệu F. Jullien sang tiếng Việt. Ông đã hào hứng thuyết giảng về cái cách nhìn phương Đông, mà cụ thể là Trung Quốc, từ chỗ đứng của một nhà nghiên cứu triết học phương Tây, ở Pháp. Mười năm trước, ở độ tuổi bảy mươi, lòng ham mê cái mới, làm việc cho cái mới, nhiệt tình truyền bá cái mới, đến như ông Hiến thật là đáng nể phục, đáng trân trọng. Cũng không vô cớ mà mối quan tâm chính hiện nay của ông là minh triết Việt. Địa hạt mới mẻ này đủ sức mời gọi và thách thức sức nghĩ của một đầu óc như ông Hiến.
Bản lĩnh cá nhân của người trí thức là biết suy nghĩ khác biệt và độc lập. Theo nhà triết học Pháp Montaigne, có ba vị thế đối với chân lý và các giá trị tinh thần: vị thế của người hư vô chủ nghĩa - những người từ chối tìm kiếm chúng; vị thế của người giáo điều - những người đã tìm thấy chúng; và vị thế của người nghiên cứu không mệt mỏi - những người tiếp tục tìm kiếm ngay cả nếu như họ biết rằng sự tìm kiếm không đi đến đâu cả. Ông Hiến ở vị thế thứ ba. Tôi đã từng viết về ông cách đây hai mươi năm: "Thông minh nên tư biện, hay tư biện do thông minh, thật khó mà rạch ròi. Chỉ biết do vậy nên bất kỳ bài viết nào của ông cũng đều khoa học và đều có một chút gì đáng ngờ về mặt khoa học". Muốn đi đến một mục tiêu thì phải tìm đường, mở đường, quá trình này có thể bị lạc hướng, sai chốn, nhưng không vì sợ sai sợ lạc mà chùn bước đi, mà ngại mở đường.
Theo nhà nghiên cứu Nga V. I. Maksimenko, tất cả mọi tấn kịch của trí thức đều xa gần liên quan đến một mâu thuẫn nảy sinh tự chính bản chất của trí thức: định hướng tự trị về tư tưởng - cuộc - sống - hoạt động và nhu cầu biến sự tự trị đó thành cái được xã hội thừa nhận, điều này thể hiện rõ nhất ở quan hệ với "quyền lực" và "nhân dân". Trong quan hệ với quyền lực, trí thức có thể đứng ở vị trí hợp tác hay đối lập, đối thoại hay bác bỏ hoàn toàn, nhưng có một điều nó không thể làm: trùng khớp với quyền lực và biến thành một trong những hiện thân của nó mà vẫn giữ được mình là trí thức. Ông Hiến đã trải nghiệm tấn kịch này. Ông đã vượt qua bằng tâm thế của Maia: Chết không có gì là khó / Sống để bảo vệ và chứng minh chân lý, khó hơn nhiều.
Theo M. Buber, có hai kiểu người mang văn hóa trí thức thay nhau bước ra tiền đài lịch sử. Kiểu "ổn thỏa" thể hiện trong mình văn hóa như là hệ thống chức năng chuẩn mực; kiểu "gây sự", ngược lại, - đó là người mang sự khủng hoảng văn hóa, sự tả tơi, đổ nát, và sự thay thế các hình thức của văn hóa. Ông Hiến thuộc kiểu trí thức "gây sự". Cuộc khủng hoảng của văn học Việt Nam sau 1975 đã được ông thức nhận sớm và báo động sớm bằng việc chỉ ra nguyên nhân "chủ nghĩa hiện thực phải đạo" khi mà những tụng ca vẫn đang vang lên không ngớt.
Và vì thế, tôi đã có lần mách cho ông Hiến cuốn sách Contre François Jullien của Jean François Billter. Ông F.B. chống ông F.J. mấy điều, nhất là ở quan niệm về Trung Hoa và triết học Trung Hoa. Theo F.B. các tác phẩm của F.J. hoàn toàn dựa trên huyền thoại về tính khác biệt của Trung Hoa, dựa trên tư tưởng rằng Trung Hoa là một thế giới hoàn toàn khác với thế giới phương Tây, thậm chí đối lập với thế giới phương Tây. Đó là một huyền thoại, không phải là cơ sở để làm khoa học, để suy tư triết học. Một nhận định khác của F.B về F.J. là: "Ông mở ra cho ta một số chân trời, ông gợi ra cho ta những cuộc gặp gỡ có thể có, nhưng những cuộc gặp này rốt cuộc là không diễn ra vì luôn luôn chỉ là ông nói. Ông trích dẫn các tác giả Trung Hoa nhưng bao giờ cũng thoáng qua, để nuôi dưỡng ý kiến riêng của mình. Ông không để cho họ lên tiếng, ông không cho ta nghe thấy giọng nói của họ, ông không để họ triển khai theo cách của họ những lập luận của họ." Nếu điều này là đúng, thì nó đúng cả cho tư duy của ông Hiến trong một số trường hợp, điều mà tôi gọi là "thông minh tư biện" hai chục năm trước.
Có nhà nghiên cứu đã phân văn học thế giới thành hai loại: loại trong nhà và loại ngoài nhà. Loại trong nhà được che chắn khỏi các cơn bão thế giới, loại ngoài nhà ở gần vực thẳm cuộc sống. Loại trong nhà nhìn rộng nhưng không nhìn xa mấy, loại ngoài nhà nhìn hẹp nhưng nhìn được xa hơn. Loại trong nhà là sự hiền minh, loại ngoài nhà là trí tuệ. Tôi muốn nhìn ông Hiến thuộc loại văn học ngoài nhà "năng động, khao khát tìm kiếm sự hài hoà và trong khi đi tìm sự hài hoà đó, thường xuyên rảo bước, rồi chuyển qua chạy, đôi khi bứt lên khỏi mặt đất, cất cánh bay." (Fazil Iskander).
Ông Hiến là phó tiến sĩ ngữ văn Hoàng Ngọc Hiến, không phải phó giáo sư, giáo sư. Mà những chức danh này chẳng bận tâm tới ông. Bằng vào cái ông làm trong nghiên cứu văn học tôi gọi ông là người văn hiến. Bằng vào cái ông sống trong nghề và trong đời tôi gọi ông là người trí thức. Nhưng khi đã gọi là văn hiến trí thức thì đây là một khái niệm tập hợp, chứ không còn là một phép cộng của các phần tử. Mừng ông tám mươi tuổi, tôi mừng ông văn hiến trí thức.

---
Hà Nội 19.7.2010
P.X.N

 

Liên kết Website

Băng quảng cáo

Bookmark Us

Add to: Mr. Wong Add to: Webnews Add to: Icio Add to: Oneview Add to: Yigg Add to: Linkarena Add to: Digg Add to: Del.icoi.us Add to: Reddit Add to: Simpy Add to: StumbleUpon Add to: Slashdot Add to: Netscape Add to: Furl Add to: Yahoo Add to: Blogmarks Add to: Diigo Add to: Technorati Add to: Newsvine Add to: Blinkbits Add to: Ma.Gnolia Add to: Smarking Add to: Netvouz Add to: Folkd Add to: Spurl Add to: Google Add to: Blinklist Information
by: Camp26.Com